Kinh Dịch nhị phân

64 quẻ là 64 con số

Thay hào dương bằng số 1, hào âm bằng số 0, mỗi quẻ Kinh Dịch thành một số nhị phân sáu chữ số, từ 0 đến 63. Bấm vào từng hào để đổi âm dương.

= trong hệ thập phân

Quẻ trên (ngoại quái)
Quẻ dưới (nội quái)

Tám quẻ đơn

Ba hào cho tám tổ hợp, tức các số nhị phân ba chữ số từ 000 đến 111. Hai quẻ đơn chồng lên nhau thành một quẻ kép.

Bảng 64 quẻ theo thứ tự Phục Hy

Xếp từ quẻ Khôn (000000 = 0) đến quẻ Càn (111111 = 63). Đây chính là cách đếm nhị phân, và cũng là thứ tự Thiệu Ung đời Tống đã vẽ. Số nhỏ màu xanh là giá trị thập phân, tên bên dưới là quẻ tương ứng.

Leibniz và Kinh Dịch. Nhà toán học người Đức Gottfried Wilhelm Leibniz đã nghĩ ra hệ nhị phân từ khoảng năm 1679. Năm 1701, giáo sĩ dòng Tên Joachim Bouvet ở Trung Hoa gửi cho ông bản vẽ 64 quẻ theo thứ tự của Thiệu Ung (thế kỷ 11). Leibniz nhận ra thứ tự ấy trùng khớp với dãy số nhị phân từ 0 đến 63, và năm 1703 ông nhắc chuyện này trong bài viết về số học nhị phân gửi Viện Hàn lâm Khoa học Pháp.

Cách đọc ở trang này. Hào dưới cùng là chữ số đầu tiên (giá trị lớn nhất), hào trên cùng là chữ số cuối. Đọc như vậy thì bảng 64 quẻ đi đúng từ 0 đến 63. Số thứ tự 1 đến 64 trong tên quẻ là thứ tự Văn Vương, thứ tự quen dùng trong sách Kinh Dịch, không theo quy luật nhị phân.

Hệ nhị phân về sau trở thành ngôn ngữ của mọi máy tính. Còn người xưa dùng 64 quẻ để bói toán và bàn về sự biến đổi, chứ không dùng để làm tính.